Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2015


Con sông đã lấp từ lâu nên người ta gọi là Sông Lấp. Vậy mà có một bà mẹ hằng ngày oằn lưng đưa đò trên Sông Lấp mới lạ.

ĐÈN CÙ Chương 44


....Thế rồi tôi bỗng vụt trở lại với hội nghị. Lưu Thanh đang nói về 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”, đêm B52 cuối cùng hết nhẵn SAM 3, chỉ còn SAM 6, Hải Phòng hắn 100 quả làm pháo hoa chiếu sáng choang trời. Tính vừa xoẳn đến viên đạn cuối cùng để thắng Mỹ thì hạch toán tác chiến quá là siêu! Lưu Thanh nói xong, Nguyễn Sinh, xưa phóng viên thường trú Vĩnh Linh, Vĩnh Mốc lên nói. Lại tố cáo những chiến công giả người ta gán cho những Mẹ Suốt, chị Trần Thị Lý sông Lấp Quảng Bình. Sông đã lấp thành tên mà báo cứ ca ngợi cô Lý oằn lưng chèo lái… Hầu hết nghe đều cười. Tự giễu và rộng lượng. Nhưng khi Sinh nói ở Vĩnh Linh, anh đã chứng kiến những người ở phía bên Nam kia bị ta bắt sang chôn sống kêu rất lâu dưới huyệt, tôi lại thấy mọi người lạnh mặt lại. Sẵn sàng bao dung với ta và hoá đá với địch. Người là một con vật sính ảo tưởng. Hồi nào, khi hai mươi tuổi, ở đầu bất cử sổ tay nào, tôi cũng viết một câu tiếng Pháp: La temporisation, c’est la fin. Lê-nin. – Để dịu nguôi đi là tiêu. Lúc ấy chưa đọc Thomas Mann: Trước mọi hưng phấn bồng bột, hãy thận trọng.....

Câu chuyện bà mẹ ăn xin nuôi con ăn học rất cảm động.
Gia đình nọ chỉ có 2 mẹ con
Mẹ vất vả nuôi người con ăn học
1 hôm nọ nó trở về và khóc
Mẹ.!.mẹ ơi !!con nghỉ học cho rồi
..
Mẹ hỏi sao....nó nức nở bồi hồi
Được học bổng con được lên trường tỉnh
Nhà mình nghèo mẹ lại đang mang bệnh
Thôi ở nhà con phụ mẹ.... mẹ ơi...!!
..
Mẹ vỗ về..cứ lo học con ơi
Con học giỏi là mẹ vui nhiều lắm
Cứ ở trường cuối tháng mẹ tới thăm
Đưa bao gạo và mấy trăm tiền giấy
..
Tháng thứ nhất bà vừa đưa vừa lạy
Gạo của bà chỉ toàn thấy thóc thôi
Tiền bà đưa ...đống lẻ đã rách rời
Xin bảo vệ..ông ơi! Tôi xin lỗi
..
Tháng thứ 2 bà mang gạo tới nơi
Tiền và gạo còn tả tơi hơn nữa
Bà quỳ xuống vừa xin và vừa hứa
Tôi xin ông....ông hãy nhận cho tôi
..
Tháng thứ 3 ông bảo vệ nặng lời
Bà cút đi..lần này tôi không nhận
Gạo đủ loại mà lại còn dính đất
Trên nhão dưới khô...tôi mất nghề..
..
Nói đến đây mắt người mẹ lê thê
Gạo của tôi là xin về ông ạ
Đủ khắp nơi nên mới nhiều loại quá
Tiền lẻ nhiều xin ông hãy thứ tha..
..
Vừa nghe xong ông bảo vệ xót xa
Tôi xin lỗi..sao giờ bà mới kể
Mai tôi xin cho bà hưởng biên chế
Để nuôi con..... ăn học đỡ nặng nề..
..
Đừng ông ơi..nói thế con tôi quê
Nó tự ái lại bỏ về thì khổ
Tôi lo được.. nên chưa cần giúp đỡ
Tôi xin ông ,đừng nói thế làm gì
...
3 năm sau ngày kết thúc mùa thi
Không tổ chức như thường khi tổ chức
Ông hiệu trưởng kể câu chuyện có thực
Về người mẹ làm nao nức tim mình..
..
Nghe xong chuyện nó lấy hết bình sinh
Chạy nhanh tới ôm mẹ mình và khóc
Con xin lỗi tháng năm dài khó nhọc
Mẹ nó cười..mà nước mắt lại rơi.....
..
Ai đã từng đọc câu chuyện của tôi
Đừng có buồn mà buông lơi suy nghĩ
Hãy thương cha yêu mẹ hơn 1 tý
1 tý thôi ...dẫu chẳng thấm thía gì .....

Thứ Tư, 16 tháng 12, 2015


                                MỘT SỰ KIỆN THỜI BAO CẤP THẬT KHỦNG KHIẾP

                                              CÁI ĐÊM HỐM ẤY… ĐÊM GÌ

Cuối năm 1983, tôi được ở nhà chờ quyết định về nghỉ chế độ. Chiều chủ nhật, thằng Học con tôi rủ rỉ nói:
- Con bắt được bác Quang ăn bánh cuốn ở hàng anh Minh. Bác đi thồ sắn ở chợ Phúc Địa về. Bác cho mấy bó nhưng con không lấy. Bác dặn con về đừng nói với bố mẹ là đã gặp bác. Nói, hôm nào sang bác đánh chết.
- Hừ! Lại thế nữa...
Tôi buột miệng bảo với con thế, rồi thừ ra. Bạn bè anh em cùng một phòng với nhau mà đi qua không vào. Có điều gì nhỉ?
Sáng thứ hai tôi sang cơ quan ứng mấy cân gạo và định bụng sẽ gặp, trút sấm sét lên đầu anh ấy. Nghe tôi trách, Lê Trung Quang, trưởng phòng tổ chức Ủy ban huyện Thọ Xuân, cười hà hà làm lành thật đôn hậu, dễ yêu:
- Giá có một mình thì tôi vào. Đằng này những bốn binh, khao được, anh cũng liệt. Vả lại, bốn cái xe nặng è, sợ tối.
Là trưởng phòng tổ chức ủy ban huyện, anh cũng để gia đình vợ con đói thiếu. Ra anh còn kém cỏi hơn cả tôi, một kẻ chân chim trần trụi, một tay sắp trở thành "phó thường dân". "Nhà mình cũng bí. Nộp sản đi rồi, lúa đã cạn. Khó mà ăn thấu tết được". Quang lắc đầu bảo thế.
Anh gạn tôi:
- Ông ở đây với tôi đêm nay cho vui. Tôi buồn quá.
Tôi chỉ vào mấy cân gạo đã bó buộc sau xe, bảo anh Quang:
- Phải mang "hàng chiến lược" này về chứ.
Nếu nghe lời Lê Quang Trung nằm lại với anh một đêm, thì tôi đã không thể nào hình dung nổi ở Phú Yên xã tôi Cái đêm hôm ấy là đêm gì...
Có cái "các" quá giang của Lê Trung Quang cho mượn, tôi không phải mất ba đồng tiền đò. Qua sông Chu gió vù vù bên tai, tôi phải kéo vành mũ len, trùm thấp cho đỡ run. Tôi về đến nhà, trời đã sẩm tối, con mực xông ra í a í ẳng vờn chân lên hông. Vợ tôi bế thằng Văn ngủ khì trong lòng, ngồi bên bếp than vỏ cao su um khói. Bên cạnh, thằng cu Thức bốn tuổi đang liến láu. Còn Học - thằng con nhớn đang học bài ở nhà trên.
Thấy tôi về thằng Thức reo lên:
- A bố! Bố về là bố về! Có chi không bố?
- Có cái rét cóng đây này!
Tôi nói rồi dắt xe vào nhà, mở túi gạo, vác xuống bếp khoe:
- Ứng được năm cân gạo.
Bà cụ thân sinh ra tôi mệt đã lâu, thấy tôi về, cũng gượng chống gậy xuống bếp sưởi. Cụ bảo:
- Mẹ Học đi nấu cơm cho bố va ăn!
Tôi hỏi:
- Nhà ăn rồi hả mẹ?
Cái thằng Thức đến là hở miệng, cấm có giấu nó được tí gì. Nó nói:
- Chỉ nấu cơm cho bà với em thôi! Mẹ với anh Học, với con ăn cháo rau má rồi. Bữa nay mẹ luộc rõ nhiều rau cải.
Tôi thấy cay sè trong mắt.
- Thế thì nấu thêm vào. Hết thì tao đi bới đất, nhặt cỏ, van ông vái bà. Làm con người mà miếng cơm chín vào bụng vẫn không đủ thì sống thế nào?
Vợ tôi định cãi câu gì đó, nhưng lại thôi, vội trao thằng Văn cho bà rồi lại mở túi gạo đi vo. Bà cụ nói:
- Rau cải ế nhăn! Đói, chả mấy người mua. Hôm nay mẹ va không đong được gạo. May lấy được đấy, không thì mai gác con lên...
Ngoài cửa gió ào ào, tiếng chó sủa ổng oảng ở đầu ngõ. Có tiếng ai hỏi mua rau cải nhà tôi. Cô Hoa vợ chú Được. Hoa cũng người họ Phùng, gọi tôi bằng bác. Chồng cô ấy là đội trưởng đội sản xuất cũ, nay vừa được rút lên làm trưởng ban định mức, rồi phó chủ nhiệm. Cô vào bếp vừa nói, vừa run:
- Sao năm nay rét sớm thế này? Bác bán cho cháu mấy bó rau cải xào.
Vợ tôi bắc nồi cơm lên bếp, mấy bà cháu phải dồn chỗ cho hai người đàn bà tê cóng này ngồi cạnh bếp hơ tay, ngó chẳng khác những viên đạn bị nén trong cái băng lò xo tròn. Tuy gần bằng tuổi vợ tôi, nhưng là hàng cháu họ, nên Hoa vẫn bác bác, cháu cháu ngon ơ.
- Bác có ngan, gà gì để cho cháu vài cân. Giá mấy cũng được, cháu không quản.
- Còn có vài ba con, phải để hôm sau bà...
Tôi lừ mắt chặn lại câu nói hớ, khiến vợ tôi im bặt. Chả là vì mẹ đẻ ra tôi yếu lắm rồi. Cụ đã bảy mươi lăm tuổi, lại phù nề mặt mũi vàng ủng như quả thị rụng. Ai cũng bảo khó qua cái đầu mùa Đông này. Vì vậy gia đình tôi đã lo chuẩn bị ngầm, phòng sau khi cụ về cõi. Cái gì vợ tôi cũng bảo dành để hôm sau bà... thành quen miệng. Cau cũng phơi kỹ bỏ be để hôm sau, thậm chí bọt bẹt được đồng rau nào cũng dồn mua ván đóng sẵn áo quan để hôm sau... Ấy nhưng nói đến cái chết, cụ lại giận và làm nau: Bay trông tao chết à? Tao phải sống để nhìn con cháu được đến lúc sung sướng chứ. Khổ mãi rồi.
Tôi hỏi Hoa để lấp láp câu hớ rồi cho bà cụ khỏi giận:
- Mua đồ nhậu làm gì tối thế này?
- À... mua cho mấy thằng về đội ta thu sản, khuya các hắn đớp. Đội và quản trị thuê khoán cháu nấu.
Vì có chồng ở ban quản trị, cô ấy cũng là loại biết nhiều chuyện "bí mật nội bộ". Hoa thì thò cho vợ tôi biết đêm nay là đêm "đồng khởi" thu sản, tổng vét cả xã. Họ sẽ đổi chéo, công an và dân quân đội này về đội kia, vét bằng hết. Vì đội 12 này là nặng gánh nhất, nên họ sẽ điều về đây những tay cứng cựa. Hoa khuyên:
- Bác có thiếu sản, thì liệu mà xoay đi
- Thế thì tao đét bán rau cho mi nữa.
Vợ tôi toan từ chối, nhưng Hoa nài mãi và có tôi nói vào nên chị chàng mới chịu nghe. Hoa cầm đèn ra vườn soi cho vợ tôi hái. Cô ấy cầm rau, rồi còn đi các nhà bên cạnh hỏi mua gà. Cơm cạn, tôi vần cạnh bếp. Vì không phải ghế độn khoai độn sắn gì nên chín rất mau. Thấy chỉ nấu mình cơm tôi, lòng tôi lại buồn nổi gai. Vợ tôi bế thằng út vào lót cho nó ngủ trong buồng, rồi lấy cho tôi cái bát, đôi đũa. Cuộc chào mời đùn đẩy, nhường nhịn nhau rõ bực.
Tôi lùa hai bát cơm với nước dưa chua, rồi bỏ đấy. Bà cụ nài, rồi tôi dỗ thằng Thức cũng lắc đầu không dám ăn chỗ cơm còn lại. Hắn sợ mẹ. Nhà này, mẹ chúng nó có quyền uy tối thượng. Biết vậy, nhưng tôi cũng sắp trở thành kẻ sống nhờ...
Ngồi ở bếp, tôi hỏi vợ:
- Nhà mình còn thiếu của hợp tác xã bao nhiêu thóc nữa em?
Cô ấy không trả lời tôi mà nói rất vô lễ:
- Có biết thế này, đái tòe tòe vào, chứ tội gì lôi về. Cha đời! Bữa trước thì tuyên bố vớt được nấy ăn nấy, người ta mới hụp lặn xuống nước lụt mà khở (gở) từng bông lúa. Nay lại giở trò giảm tỷ lệ!
Tôi vỗ về:
- Thôi! Lụt thì lụt cả làng, em ạ! Em nói xem, so với tổng sản phải nộp, nhà ta thiếu bao nhiêu?
- Một tạ mười hai cân, em đã trình bày với anh Nhà đội trưởng rồi. Thực tế mò được hạt nào đã ăn hết hạt nấy. Mấy lâu nay bán được đồng rau nào mua ăn, không bán được thì nhịn. Đã nói khất rồi. Không cho khất, thì nhà đấy có dỡ được, đến mà dỡ.
- Phải mềm mỏng, em ạ! Khéo bán khéo mua thua người khéo nói! Gia đình mình, con cái mình còn ăn đời ở kiếp nơi đây.
Vợ tôi rền rĩ như sắp khóc:
- Chả nhẽ kiếm liều thuốc chuột, cho vào nồi cháo, ăn hết cả nhà cho sướng cái đời...
Ngồi sưởi ở bếp rất lâu, vỏ cao su cháy tàn, đã vạc hai ba đống than, mà chẳng ai muốn nói với ai câu nào nữa. Bà cụ ngồi lâu, mỏi và chán chuyện bỏ đi nằm. Thằng Học làm toán xong, lấy cho bà nồi than, rồi cũng rúc xuống bếp. Hắn đi bốc rơm lót ổ ngay cạnh bếp, lấy ván chắn rồi trải chiếu, ôm chăn ra nằm.
- Ngủ đây mà ấm, bố ạ!
Trong giường thằng Út Văn khóc í óe. Hắn lại đái lạnh đít rồi. Mẹ nó vào quả không sai. Nó được ôm ra bếp sưởi, nằm gọn trong lòng mẹ. Gần một tuổi mà nó còn bắt nhá cơm bón và bú thì hơn con bê non. Lại nhai tòm tọp thế đó! Tôi đùa với con để nó cười sằng sặc cho dịu cơn lo buồn.
Gần mười hai giờ khuya, cả nhà đi nằm. Tôi ngủ với hai thằng oắt trong ổ rơm dưới bếp.
Có điều gì đó bồn chồn và nơm nớp...
Bỗng tiếng kẻng gõ giục giã liên hồi. Kẻng khắp xã: từ đội 1 đến đội 15, như một sự bùng nổ dây chuyền. Tiếng loa phóng thanh mở hết cỡ đọc bản tin, kế hoạch huy động lương thực của tỉnh và chỉ thị của tỉnh ủy về công tác lương thực.
Hoàng Văn Nhân, đội trưởng đội 12, đọc trên loa danh sách những nhà thiếu thóc chưa giao nộp cho hợp tác xã. Đèn đóm soi rừng rực ở các ngã đường. Chó sủa ơi là chó sủa. Cũng cái loa phóng thanh ấy, có tiếng ông chủ tịch xã gọi cán bộ về đội 12 hội ý.
Ông trưởng công an xã Nguyễn Đình Định gào rát cổ trên loa, giọng giật giội gọi lực lượng dân quân, công an tăng cường về chi viện cho đội 12, tạo đà cho đội hoàn thành chỉ tiêu huy động. Tôi rùng mình nghĩ đội tôi là đội trọng điểm, nên cán bộ xã, hợp tác xã, vón cục cả về đây. Họ sẽ gõ cho ra chục tấn thóc còn tồn sổ.
Gần một giờ sáng, công an, dân quân đã ập đến các nhà nợ thóc. Tiếng chó sủa vang, tiếng lợn kêu èng ẹch như bị chọc tiết ở các nhà gần quanh, làm thằng Út Văn khóc thét lên, ôm riết lấy mẹ. Thằng Thức cũng im thin thít, nằm co trong lòng tôi không dám cựa. Bên nhà ông Ái, láng giềng cách vườn nhà tôi một hàng rào, công an và dân quân đang lùng sục. Tiếng ông bà Ái kêu xin và tiếng quát lác, tôi nghe rõ mồn một.
- Cứ bắt lấy cái xe đạp! Phích, xô, bắt ráo!
Ở cổng nhà tôi đã có bước chân rình rịch, con chó mực đang có chửa bị quất, kêu ử ử.
Cạch cạch cạch.
- Chị cò Lộc, mở cửa ra!
Tiếng thằng bé trong buồng khóc thét. Thằng Thức đang ôm tôi, nghe em khóc cũng òa khóc toáng lên. Thằng Học mười hai tuổi đã học lớp tám rồi, mà cũng níu lưng tôi run bắn. Nghe tiếng quát lần thứ hai, từ nhà bếp, tôi chạy lên. Một luồng đèn pin soi giữa mặt làm tôi lóa mắt, phải lấy tay che.
- Có chuyện gì đấy, các bạn trẻ ơi?
- Thu thóc, thu thóc chứ còn gì, ông đừng hỏi vờ.
Vợ tôi đã mở toang cửa, tay ôm thằng bé ngất lịm. Một anh, hai anh... bốn anh bạn trẻ ùa vào nhà. Anh đi đầu cao to, tóc cắt tăng gô, mặc áo bông thùng thình, soi đèn pin rồi đánh diêm châm cái đèn hoa kỳ ở bàn thờ. Có lẽ Tâm "hộ pháp" là người này. Phải, tôi đã thấy anh ta đứng chân hộ vệ giữa, trong một cuộc đá bóng với xã khác. Tay anh cầm cái choòng sắt cỡ ngón tay cái. Vợ tôi mời họ ngồi ghế. Bà cụ đang ốm ở giường bên cũng cố ngóc dậy, run rẩy chào.
Theo danh sách đội báo, chị còn thiếu hơn tạ thóc. Yêu cầu chị đem nộp ngay!
Bà cụ tôi đáp thay con dâu:
- Các bác các anh ơi! Có còn cái gì mà nộp. Các anh và các bác không thấy đàn con hắn đói xanh đói trong đi à? Các bác không thấy tôi cũng phát phù phát nề, vàng cây úa lá đây à?
- Chúng tôi không hỏi mụ nghe chưa?
Cả bốn người cùng soi đèn pin khắp nhà trong, nhà ngoài, dưới bếp, bên chái. Hai người tuông soi cả trong vườn rau. Vợ tôi mếu máo:
- Làm gì có lúa để ngoài ấy. Các anh xéo nát cả rau.
Tôi chạy ra trụ sở đội, định tìm cán bộ trình bày. Chủ tịch Phê, bạn dạy học với tôi ngày trước, đi bộ đội về giải nghệ, vào cấp ủy, đang đứng đấy. Thấy thế tôi mừng quýnh. Lại thấy cả Phùng Gia Miện anh họ tôi, làm bí thư đảng ủy cũng có mặt, tôi càng yên trí. Nhưng thấy tôi họ quay đi lảng tránh.
Anh Miện bảo nhỏ tôi:
- Chú về động viên gia đình thanh toán bằng đủ, nhà mình là cán bộ. Không có thóc thì nộp bằng tiền. Lãnh đạo đã nhất trí cho nộp cả bằng tiền rồi đó.
Tôi đang định nói: "Đã không có thóc thì làm cóc gì có tiền", nhưng anh họ tôi đã dịu giọng:
- Ở đội trên, hắn bắt cả anh Thiện, anh ruột tôi, mà tôi cũng phải điếc đi... "Mất mùa màng, lợi ích thứ ba của người lao động phải hy sinh cho lợi ích của nhà nước". Đồng chí bí thư tỉnh ủy đã chỉ thị thế, chú biết rồi đó.
Lúc ấy ở trụ sở, công an, dân quân đã khuân về nào xe đạp, bàn ghế, tủ, chum vại, thùng tôn, lợn gà... để ngổn ngang ra tận ngõ. Tên chủ nhà thiếu thóc đề chữ bằng phấn trắng vào các đồ vật: Ông Ất, ông Do Khả, ông Hưng, ông Hồng, ông Khính (mẹ đẻ cô Hoa, mẹ vợ chú Được phó chủ nhiệm)... Mấy con bò bị bắt cột gần đó sợ đèn, sợ đám đông cứ lồng lên, chực bút mũi. Chúng xoay vòng quanh, mgửa lên mặt kêu "hấp bồ", "hấp bồ"...
Tôi loạng choạng đi về nhà, thấy người ta đang còn soi đèn tìm rất kỹ. Tôi nói:
- Các người anh em soi tìm gì cho mất công. Nhà tôi xin khất đến mai, tìm cái bán chác, nộp tiền bằng đủ.
Anh đầu tốp nháy nháy mắt ra hiệu.
- Đêm nay là đêm nay! Mai chúng tôi mất thưởng ai chịu cho?
- Bắt cái xe đạp ni, bay!
Hai ba anh chạy lại. Tôi từ tốn ngăn họ:
- Các đàn anh ơi! Tôi không làm ruộng sản mà. Đây là xe đạp nhà nước cấp cho tôi để tôi đi công tác. Các vị bắt cái này không được đâu.
- Nếu chúng tôi cứ bắt thì sao?
Tôi loáng nghĩ được một mẹo. Rút cái "thẻ hội viên Hội văn nghệ tỉnh" ra, tôi nói:
- Tôi phản đối! Tôi là "nhà báo"! Tôi sẽ kiện lên tận ông Đồng.
Nước cờ của tôi không ngờ lại có hiệu quả. Họ im lặng. Hẳn họ đã biết tên tôi dưới những bài đăng nào chăng.
Chợt vị "hộ pháp" nhìn chằm chằm vào cỗ quan tài để dưới gầm bàn thờ, rồi đi lại, vừa gõ vừa hỏi:
- Cái gì trong này, chị Lộc?
Im lặng...
- Cái gì trong này, chị nói mau?
Vợ tôi ấp úng. Tôi muốn tắc thở.
- Có cái gì đâu...
Mấy vị hăm hở lại, đạp lật nghiêng một cái. Nắp văn thiên bung ra, lúa chảy rào rào. Cả toán reo lên như một hiệp đào vàng trúng vỉa:
- A! Lúa! A lúa! Lúa! Anh em ơi. Ghê thật! Thế mà giả nghèo giả khổ.
Mẹ tôi chống gậy vái dài:
- Van các anh! Cắn rơm cắn cỏ tôi lạy các anh! Lúa của tôi. Đó là tạ lúa hai đứa con gái hắn mua góp lại cho, để hôm sau tôi chết, bà con thương mà chạy đến để ăn lưng cơm sốt.
Thực ra là của hai bà chị trong đó mỗi người có mười cân thôi. Ba mươi chín cân tiêu chuẩn hai tháng vừa qua tôi lấy về, còn lại là hơn bốn mươi cân, vợ tôi đong để dành "hôm sau" cho bà.
Bà cụ nói như rên rẩm:
- Đã bảo xay phứa đi cho con nó ăn không nghe. Cứ bóp mồm bóp miệng, để dành làm chi. Sống chả thấy đâu nữa là!
Một tay râu tóc lồm xồm hỏi:
- Chị có gánh đi hay không thì bảo?
Một tay khác tôi hơi quen mặt, đến trước vợ tôi lạy lia lịa:
- Thôi em xin bà chị. Em đi làm ở đây thế này, nhưng lại có bọn khác đến chỗ em làm ác y hệt. Nhà em cũng thiếu mà. Chị không gánh, để cánh này bê cả hòm ra, chị phải chịu hai chục công là ít, chưa nói phạt tiền.
Họ xúm vào khiêng bàn thờ ra, để lôi hòm lúa. Bất đồ hai thằng Học và Thức từ bếp tuôn lên, ôm lấy tay chân chư vị, van rối rít.
- Cháu van các chú! Các chú đừng lấy lúa này đi. Lâu nay các cháu phải nhịn để dành bữa sau cúng cỗ bà, làm ma bà!
- Buông ra đi! Ô hay, đồ con nít!
Bà cụ loạng choạng đi lại, giơ gậy cản:
- Các ông không thương trẻ, thì các ông thương lấy thân già, để lấy phúc đức cho con cháu.
Vì họ đá vấp gậy, lại yếu như con căng cắc lột, bà cụ ngã chỏng queo như chiếc ghế đổ.
- Ối Đảng ôi là Đảng ôi! Chính phủ ôi... Trông xuống mà coi...
Tôi xốc mẹ lên giường, bịt mồm cụ lại:
- Mẹ! Mẹ không được la như thế! Đây không phải Đảng! Đảng ta không làm thế. Đảng không chủ trương thế này!
Tôi nói vậy và ngoặp hai hàm răng vào cổ tay mình để kìm giữ cái gì cứ chực tung ra. Hai vợ chồng xúc hết lúa ra thúng bì. Dặn thằng Học trông em, ngó bà, tôi cùng vợ hì hục gánh thóc ra trụ sở nộp...
Đoạn cuối này tôi dành cho anh Quang.
Lê Trung Quang ơi! Anh có thể giấu cái bi kịch của gia đình anh, nhưng tôi không còn có thể che giấu nỗi đau của nhân dân bất hạnh. Dù sự tiết lộ này có làm mất cái chức huyện ủy viên của anh, thì tôi cũng thấy cứ phải nói ra.
Chuyện thật của nhà anh đây: lúa vay ăn còn nợ bảy tạ, con Lâm, thằng Sơn phải đi mò hến từng bữa, chị ấy nấu bánh đúc đi các làng đổi lúa. Anh mà nói ra, người ta cho là anh bêu riếu. Việc thật ở nhà tôi đêm 26 tháng 11 năm 1983, người ngoài cuộc hẳn cho là mình bịa. Cho đến nay, mỗi khi nghĩ đến, tôi cứ thảng thốt hỏi mình: "Cái đêm hôm ấy... đêm gì?"
                                                                                          PHÙNG GIA LỘC - Cuối năm 1987


Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015


Nói dóc là một bệnh xấu rất khó sửa. Nói dóc sẽ bị mất mát nhiều hơn được Vậy mà có người với bản chất nói dóc, không sửa được. NÓI DÓC LEM LÉM.

Nói dối lem lém

Ngày: 19 / 05 / 2014 Trong: Lang Thang Phố Nhỏ | bình luận : 53
Nói dối lem lém, nói dối lì lợm

(Rút từ hồi ký “Đi tìm cái tôi đã mất” của Nhà văn Nguyễn Khải. Đầu đề do nhà văn Nguyễn Quang Lập đặt.)
Một xã hội không tự hiểu mình, mỗi cá nhân cũng không tự hiểu mình, vàng thau, phải trái, cao quý ti tiện lẫn lộn, các giá trị lẫn lộn bắt đầu từ sự không chuẩn xác của ngôn từ.
Câu mở đầu kinh thánh Cựu ước “Thoạt Tiên Là Ngôn Ngữ…” (Au conmmencement était le Verbe). Ngôn ngữ làm nên văn minh này, vì nó có thể lưu giữ và truyền lại toàn bộ kinh nghiệm của nhiều đời trước cho nhiều đời sau, càng ngày cái khả năng nhận thức càng gần đúng như nó có, khiến sự lựa chọn của con người khách quan hơn, có hiệu quả tích cực trong quá trình chủ động thích ứng với mọi đổi thay của môi trường sống và môi trường xã hội.
Vậy mà ngôn từ lại là cái mặt yếu nhất trong các lãnh vực thuộc thượng tầng kiến trúc ở các nước xã hội chủ nghĩa. Công dân của các nước ấy dùng ngôn từ để che đậy chứ không nhằm giao tiếp, hoặc giao tiếp bằng cách che đậy, “nói vậy mà không phải vậy”! Nó là cái vỏ cứng để bảo vệ mọi sự bất trắc, chống lại thói quen hay xét nét lời ăn tiếng nói của công dân của mọi chính quyền chuyên chế.
Cái cách tự bảo vệ ấy lại càng rõ rệt ở cấp lãnh đạo và các viên chức nhà nước làm việc ở các cơ quan quyền lực. Họ nói bằng thứ ngôn ngữ khô cứng đã mất hết sinh khí, một thứ ngôn ngữ chết, ngôn ngữ “gỗ”, nói cả buổi mà người nghe vẫn không thể nhặt ra một chút thông tin mới nào.
Các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của Đảng, của chính phủ, của quốc hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất. Người cầm quyền cấp cao nhất và cấp thấp nhất đều biết cách nói mơ hồ, càng nói mơ hồ càng được đánh giá là chín chắn.
Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết rằng nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì vì không một ai tin nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân.
Rồi nói về cần kiện liêm chính, về chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra. Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai hoạ nên không hỏi gì cũng là một phép giữ mình.
Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết, nói để mà nói, chả lẽ làm người lại không nói.
Thật ra nói thế mà vẫn hiểu nhau cả. Người cầm quyền thì biết là nhân dân đang rất bất bình về nhiều chuyện, nhân dân thì biết người cầm quyền đang nói dối, nhìn vào thực tiễn là biết ngay họ đang nói dối. Nhưng hãy mặc họ với những lời lẽ dối trá của họ, còn mình là dân chả nên hỏi lại nói thế là thật hay không thật. Mình cứ làm theo ý mình và mình cũng sẽ nói dối, nói che đậy nếu như có dịp được người cầm quyền hỏi.

Trong hàng trăm cuốn hồi ký của các nhà văn hoá, của những người hoạt động chính trị, của nhiều tướng lĩnh, ta chả biết được bao nhiêu cái thế giới riêng của họ, cái thế giới cá nhân của họ. Cái phần đóng góp của họ càng nhỏ thì cái ý nghĩa quyết định của tập thể càng lớn, cái có tên thì bé tí xíu, vô nghĩa, cái không tên thì bao trùm rộng khắp nhưng cũng không có hình thù rõ rệt, cứ mờ mờ mịt mịt, có đấy mà cũng không có đấy, cái chung ấy chả phải chịu trách nhiệm với một ai, có biết nó là ai mà truy cứu.

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2015


Ông Lý Quang Diệu! Tôi rất quý mến ông vì những suy nghĩ của ông rất gần gũi với mình.
Mời các bạn xem Ông Lý đề nghị những gì cho Việt Nam!



Thủ tướng Lý Quang Diệu và các đề nghị của ông cho Việt Nam

Nói đến Singapore, không thể không nhắc đến tên tuổi của ông Lý Quang Diệu người đã biến khu vực đất đai không một chút giá trị trồng trọt, không có nước ngọt để uống và mọi sự bắt đầu gần như một con số không, chỉ sau vài thập niên đã vươn mình đứng dậy thành một đất nước phú cường về kinh tế, hùng mạnh về quốc phòng, ổn định về chính trị và tiếp tục là mô hình cho các nước đang phát triển noi theo.
Triết lý trọng dụng người tài
Những thành công vượt mức ấy có được từ sự dẫn dắt của ông Lý Quang Diệu, người mang kiến thức từ Anh quốc trở về áp dụng linh động trên phần đất hoang sơ được trao trả từ Anh. Ông đã áp dụng chính sách tận dụng nguồn nhân lực trí thức cao của nhân tài người Hoa khắp nơi quay về đảo quốc cũng như kêu gọi sự đóng góp của chuyên gia thuộc mọi quốc tịch trên thế giới để biến nền kinh tế tài chính nơi đây thành vị trí hàng đầu, cùng với kỹ nghệ sản xuất vật liệu cao cấp trong ngành y khoa và đào tạo nhân lực với nền giáo dục tiên tiến bậc nhất trong khu vực.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho biết sự lớn mạnh của Singapore là kết quả từ tận tậm tận lực và nhất là tầm nhìn của ông Lý Quang Diệu:
Ông Lý Quang Diệu đã có tầm nhìn đúng đắn và cái điểm nổi bật của ông là dựa trên triết lý trọng dụng và tận dụng người tài. Ông luôn luôn lắng nghe ý kiến của người khác, thu hút người tài về Singapore.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh
-Điều đó cho thấy là ông Lý Quang Diệu đã có tầm nhìn đúng đắn và cái điểm nổi bật của ông là dựa trên triết lý trọng dụng và tận dụng người tài. Ông luôn luôn lắng nghe ý kiến của người khác, thu hút người tài về Singapore. Ông đã lắng nghe khi Singapore có những biểu hiện tiến chậm hơn, ông đã mời các chuyên gia hàng đầu trên thế giới đến để góp ý. Điểm thứ hai ông rất thực dụng, rất tỉnh táo điều gì cản trở bước tiến của Singapore vì không thích hợp thì ông sẽ tìm cách sửa đổi, tìm cách thay thế. Điều thứ ba là ông hết sức trung thực. Ông coi trọng một bộ máy trung thực, ông trung thực đối với ông và ông trung thực đối với những người khác.
Ông Lý Quang Diệu là một chính khách trong thế giới tư bản có quan hệ rất mật thiết với Việt Nam. Ông được mời tư vấn kế hoạch phát triển kinh tế trong thời của chính phủ Võ Văn Kiệt. T.S Lê Đăng Doanh kể lại:
-Tôi có dịp được tiếp xúc với ông khi ông Lý Quang Diệu được Thủ tướng Võ Văn Kiệt mời sang để góp ý kiến cho Việt Nam thì ông Lý Quang Diệu đã có yêu cầu một cơ quan Việt Nam cung cấp số liệu về kinh tế đã nhờ Đại sứ Singapore tại Hà Nội và ông này đã đến gặp tôi lúc bấy giờ tôi là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, tôi đã soạn thảo một bộ tài liệu và viết ra thành tiếng Anh và sau đó khi sang Việt Nam ông Lý Quang Diệu đã rất cám ơn và sử dụng số liệu đó để góp ý kiến.
Tôi cũng có dịp hội họp với ông Lý Quang Diệu, trao đổi trực tiếp với ông trong những lần ông Lý Quang Diệu sang Việt Nam thì tôi đều được tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với ông. Ông mơ ước được một đất nước như là Việt Nam, có tiềm năng, có dân số, có vị thế chiến lược, có những con người thông minh luôn luôn học giỏi hàng đầu ở Singapore và các nơi trên thế giới. Họ chịu khó làm việc và ông nghĩ rằng đất nước Việt Nam phải là một trong đất nước hàng đầu ở châu Á này.
Ông Lý Quang Diệu từng cho rằng "Tự do báo chí, tự do truyền thông tin tức đều phải lệ thuộc vào nhu cầu bảo vệ sự toàn vẹn của Singapore". Đây là cách mà Việt Nam đang áp dụng với câu chữ là định hướng báo chí
Ông cũng mong muốn Việt Nam phồn vinh và cường thịnh vì một Việt Nam phồn vinh và cường thịnh sẽ có lợi cho Đông Nam á, có lợi cho hòa bình và ổn định của khu vực và cũng có lợi cho Singapore. Vì vậy cho nên ông nhiệt thành cố vấn, ủng hộ sự cải cách cho Việt Nam, ủng hộ phát triển kinh tế tư nhân, ủng hộ hội nhập.
Ông Lý Quang Diệu là một trong những người có công đóng góp cho sự thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Với vận động của ông, các nước thành viên đã đồng thuận cho Việt Nam tham gia vào tổ chức này vào tháng 7 năm 1995. TS Lê Đăng Doanh nhận xét những đặc tính mà ông Lý được mến mộ khi đóng góp cho Việt Nam:
-Cá nhân ông đã dùng các uy tín và khả năng thuyết phục để thuyết phục các nước ASEAN chấp nhận Việt Nam tham gia vào tổ chức ASEAN. Ông cũng rất thẳng thắn, khi ông thấy những tiến bộ của Việt Nam chậm hơn ông mong muốn. Ông cũng rất thẳng thắn khi thấy rằng những cải cách của Việt Nam không được như ông kỳ vọng và trong hồi ký và các ý kiến lúc cuối đời ông cũng thẳng thắn nói lên những điều đó. Tôi nghĩ đó là một người bạn chân thành, một người bạn trung thực của Việt Nam và tôi tưởng nhớ ông, kính trọng ông và cám ơn ông về những gì ông đóng góp cho Việt Nam.
Quan niệm định hướng báo chí
Mặc dù là một nước thành công vượt bậc trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế tới quân sự, từ xây dựng một nền văn hóa nhân bản tới phát triển du lịch trong khuôn khổ của sự tôn trọng, cũng như phát triển các loại hình nghệ thuật căn cứ trên tính phổ quát nhân văn, nhưng một lĩnh vực rất quan trọng thuộc về quyền tối thượng của người dân thì Singapore lại tỏ ra yếu kém nhất, đó là quyền tự do báo chí.
Ông Lý Quang Diệu từng cho rằng "Tự do báo chí, tự do truyền thông tin tức đều phải lệ thuộc vào nhu cầu bảo vệ sự toàn vẹn của Singapore". Đây là cách mà Việt Nam đang áp dụng với câu chữ là định hướng báo chí. Cũng không khác mấy với Việt Nam khi bị chỉ trích, ông Lý đã cho rằng các tờ báo chống ông được tài trợ bởi các thế lực thù nghịch ở nước ngoài.
Quan điểm cho rằng một số quyền tự do cần phải bị hy sinh để phát triển quốc gia của ông Lý Quang Diệu cũng từng gây tranh cãi nhất là quan điểm mô hình phương Tây về tự do dân chủ là không thể áp dụng được.
Kiến nghị của ông Lý Quang Diệu cho đến nay chưa được thực hiện một cách có hiêu quả. Thí dụ như chuyện bộ máy nhà nước trọng dụng người tài. Thí dụ như xây dựng bộ máy công khai minh bạch. Thí dụ như xây dựng bộ máy không có tham nhũng, không dám tham nhũng, không cần tham nhũng và không thể tham nhũng
TS Lê Đăng Doanh
Luật sư Nguyễn Trần Bạt, tác giả của nhiều cuốn sách bàn luận chính trị cho biết nhận xét của ông về sự thiếu vắng tự do báo chí của Singapore, ông nói:
-Tôi cho rằng báo chí có hoạt động tự do hay không thì cuối cùng những thành tựu quan trọng nhất trong tất cả các hoạt động xã hội chính là cái xã hội ấy nó phát triển và no ấm. Có một câu nói rất hay mà tôi nghĩ rằng có thể áp dụng được: ở chỗ nào ngay sự ngốc nghếch đã được hạnh phúc rồi thì khôn ngoan là thừa! Tôi nghĩ rằng người Singapore đang no ấm chúng ta còn hồi hộp xem sự no ấm của họ có bền vững không? Và nếu sự no ấm này có dấu hiệu nào đó không bền vững thì chúng ta buộc phải nghiên cứu các nguyên nhân của nó trong đó có thể không có tự do báo chí hay tự do chưa thỏa đáng có thể là một nguyên nhân để chúng ta nghiên cứu.
Những điều chưa thực hiện được
Trong một bài trả lời phỏng vấn đăng trên Straits Times dưới tiểu tựa: “Việt Nam: mắc kẹt trong tư duy xã hội chủ nghĩa”, ông Lý Quang Diệu đã nói: về cải cách của Việt Nam đã thay đổi đáng kể từ chỗ khá lạc quan khi ông có các chuyến thăm đầu tiên vào những năm 1990. Giờ ông tin rằng thế hệ các nhà lãnh đạo cộng sản lớn tuổi của Việt Nam không có khả năng phá vỡ tư duy xã hội chủ nghĩa một cách cơ bản. Lúc đầu họ đồng ý bắt tay vào chặng đường cải cách bởi vì họ thấy rằng đất nước đang chẳng đi đến đâu. Nhưng từ đó đến giờ họ vẫn chưa thể hiện được quyết tâm thật sự trong việc đại tu hệ thống, điều mà người ta đã chứng kiến ở Trung Quốc.
Nhận xét về phát biểu này, Giáo sư TS Nguyễn Đình Cống, từng giảng dạy tại Đại học Xây dựng, có những bài viết nhận định về lý thuyết Mác Lê nin cũng như con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội chỉ là không tưởng, cho biết:
-Quá đúng! cái đất nước này muốn phát triển lên được thì phải từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê nin có nghĩa là từ bỏ những lý thuyết của cộng sản. Phải từ bỏ việc xây dựng chủ nghĩa xã hội vì những thứ ấy là không tưởng. Không những là không tưởng mà nó còn có nhiều độc hại. Cái Đại hội 12 này nếu như người ta hiểu ra được như thế, nếu người ta bỏ những thứ ấy thì không còn đảng cộng sản nữa thì mới có thể đưa dân tộc phát triển đúng hướng chứ còn cứ bám lấy những thứ ấy thì chỉ có đưa cả dân tộc này vào một hệ thống lệ thuộc vào Tàu thôi.
Mặc dù tiếp thu ý kiến của ông Lý Quang Diệu trên vấn đề hội nhập và phát triển cũng như chuyển đổi kinh tế, nhưng công cụ quản lý thành công của một nhà nước pháp quyền qua đóng góp của ông vẫn không được Việt Nam áp dụng, TS Lê Đăng Doanh chia sẻ:
-Kiến nghị của ông Lý Quang Diệu cho đến nay chưa được thực hiện một cách có hiêu quả. Thí dụ như chuyện bộ máy nhà nước trọng dụng người tài. Thí dụ như xây dựng bộ máy công khai minh bạch. Thí dụ như xây dựng bộ máy không có tham nhũng, không dám tham nhũng, không cần tham nhũng và không thể tham nhũng! Tất cả những điều đó chúng ta chưa làm được và tôi nghĩ đấy là điều mà ông Lý Quang Diệu cũng tiếc và cá nhân tôi cũng rất tiếc cho đất nước của mình.

Ông Lý Quang Diệu được cộng đồng thế giới ngưỡng mộ, người dân Singapore tiếc thương có lẽ từ tư cách, tài năng và lòng yêu thương mảnh đất mà ông góp công đầu tạo dựng. Ông mất đi nhưng vẫn còn để lại những bài học mà nhiều nước đang học dở dang nhất là Việt Nam nơi từng được ông trực tiếp chia sẻ kinh nghiệm thành công của mình.

Một truyện ngắn viết về vùng cao Hà Giang, có những sinh hoạt rất lạ. Mời các bạn đọc truyện ngắn sau đây.

Ngoài cửa trời chưa sáng

02.12.2008 02:23
Đỗ Bích Thủy
Truyện ngắn
Lạc đường. Con Mốc vẫn cắm đầu chạy. Cho đến khi sắp khuỵu xuống thì trước mặt nó hiện ra một khe nước. Từ phía dưới, sâu thăm thẳm, vẳng lên tiếng nước réo ùng ục. Mốc phi thẳng vào tầng tầng lớp lớp giang già phủ kín mặt khe, bỏ lại sau lưng lũ chó ăn thịt gầm gừ kéo đuôi lượt thượt tức tối. 
Mốc chìm dần giữa tán giang dày khít và rơi xuống một vụng nước. Nước trong văn vắt, lặng mà sâu. Nó đang nằm trên đỉnh một ngọn tháp. Chỗ này có lẽ đã cách xa Pụ Dín lắm. Không mấy khi theo chị Pao đi lấy chuối rừng về cho lợn mà gặp nhiều chuối vàng to chừng này. Chuối rừng mọc khắp các khe suối, lẫn với giang, cây dong và ngõa, đến mùa thi nhau nở hoa đỏ ối cả vùng. Nhưng chỉ nhiều chuối đen chứ chuối vàng ít lắm, người các bản lên chặt về chăn lợn hết, cây bé cũng hết.

Đêm qua, lúc thoát khỏi mấy bàn tay sắp chọc dao vào cổ mình, Mốc đã phi một mạch không kịp nhận ra hướng về nhà, lâu lắm mới dừng lại để đạp cái rọ mõm ra. Rồi tối trời, lại mệt quá, nó dúi đầu vào một bụi lau mà ngủ. Sáng nay, cứ nhằm đường hẹp đường rậm mà chạy. Đường rậm thường không có người đi, mà thiếu hơi người thì lũ chó ăn thịt kia còn tha hồ tìm.

Mốc uống no nước rồi bò lên bờ, nằm vắt qua một tảng đá đầy rêu. Xung quanh tối thẫm, không có tí ánh mặt trời nào. Mốc nhúng cái chân đang còn chảy máu ròng ròng xuống nước...

Lúc ấy, Pao cũng đang ngược dốc tìm đường về Pụ Dín.

*
Từ Pụ Dín nhìn qua mấy quả núi cũng thấy khói nương Pụ Cháng. Mùa thu hoạch, gió mạnh một tí là có mùi cơm mới bay sang. Vậy mà muốn đến thăm nhau là phải đi từ lúc mặt trời chưa mọc đến khi mặt trời sắp lặn, trẻ con không đứa nào đi nổi. Pụ Cháng ở thấp hơn, gần đường ôtô, đi về chợ huyện chỉ mất nửa ngày. Gần huyện nên trẻ con Pụ Cháng cũng khôn sớm hơn trẻ con Pụ Dín, nhiều đứa bé tí đã biết nhận mặt đồng tiền lúc theo mẹ bán bán mua mua ở chợ.

Xa thế nhưng cũng gần, hai bản có nhiều nhà là anh em họ hàng với nhau. Trước kia Pụ Cháng toàn người họ Giàng, họ Thào; Pụ Dín chỉ có họ Lù, họ Ly, sau này đi sang nhau lấy dâu nhiều mới thành họ hàng anh em. Lẽ ra là họ hàng anh em phải hay đến thăm nhau thì bây giờ lại không thế. Người già muốn đến nhưng yếu chân yếu mắt không đi được. Người trẻ thứ gì cũng khỏe lại không muốn đi. Tại cái đầu ít nghĩ đến nhau thì tự dưng chân cũng mỏi theo thôi mà. Người Pụ Dín nói thế.

Ấy dà, nói thì không vừa lòng nhau, không nói thì bảo khinh nhau, bảo không có mồm. Biết thế nào cho phải. Người Pụ Cháng lại nói thế.

Mặc kệ thôi. Gió vẫn cứ mang hương cơm mới về Pụ Cháng, lại mang mùi rượu hoẵng lên Pụ Dín. Trời mưa thì nước mới vẫn chảy từ trên cao xuống thấp, trời cạn thì chỗ nào cũng khô như nhau. Trời đất chẳng làm gì để bản này ghét bản kia, mà người già đêm nào cũng nói đi nói lại ghét nhau là tự mở cửa cho ma đói vào bụng mình. Từ ngày Pụ Dín, Pụ Cháng gom lại chưa đầy chục nóc nhà đã thân nhau như mấy đốt ngón tay, cứ năm nào có người cãi nhau là năm ấy mất mùa. Bây giờ không phải một, hai người mà cả bản ghét nhau thì cái gì đến đây?

Tai vẫn nghe, miệng không cãi, nhưng bụng thì nghĩ khác rồi.

Người trẻ không còn muốn sang đi hội với nhau nữa. Mọi thứ cứ khác dần đi, bắt đầu từ ngày Pụ Cháng có điện về.

Pụ Cháng nằm ngay cạnh đường lên huyện lị. Lúc người ta kéo điện qua tiện đường lắp cho Pụ Cháng một trạm hạ thế. Vậy là bỗng chốc cả Pụ Cháng, nhà lớn nhà bé, nhà giàu nhà nghèo, chỗ nào cũng sáng như ban ngày. Từ Pụ Dín nhìn xuống thấy như mặt trời không lặn ở Pụ Cháng, còn ở Pụ Cháng từ ngày không còn thắp đèn dầu nữa, nhìn lên lại thấy Pụ Dín tối hơn ngày trước. Có lần gặp nhau ở chợ, bọn con trai Pụ Cháng còn bảo: "Dạo này Pụ Dín đi ngủ sớm thế. Chẳng thấy ánh lửa gì cả". Không biết chúng nó nói thật bụng hay cố tình trêu tức, nhưng đám con trai Pụ Dín đã giận tái mặt: "à thì chúng mày khinh bọn tao đấy. Mới sáng hơn một tí đã học khinh người ở đâu về rồi".

Vậy là cãi nhau. Lúc đầu chỉ nói nặng lời hơn bình thường, nhưng sau cứ nóng mặt dần lên, không giữ được nữa là mở miệng to ra, suýt nữa còn đánh nhau. May mà bọn con gái gọi về.

Sau lần cãi nhau giữa đám thanh niên ấy, hai bản xa nhau hẳn ra. Không ai bảo ai nhưng tất cả đều nhận thấy thế. Người Pụ Dín đi chợ huyện không qua Pụ Cháng nữa mà đi vòng, qua hai quả núi nữa mới xuống đến đường cái. Mất gần một tháng, bọn con trai con gái Pụ Dín mới dọn xong đường riêng cho mình. Thấy thế, thanh niên Pụ Cháng đi săn cũng không đi về phía Pụ Dín. Nhưng dần dần, từ ngày có điện về người Pụ Cháng cũng ít lên núi. Pụ Cháng đã tự mở một cái chợ bé, có máy xay xát, có thêm cả một cái quán phở nữa, lúc nào cũng ồn ào. Bây giờ, xe ôtô qua lại, dù lên huyện hay về tỉnh cũng muốn dừng lại Pụ Cháng một lúc. Pụ Cháng ở ngay sau cổng trời một, quanh năm gió lồng lộng, nhìn xuống phía dưới là thung lũng toàn sa mộc mọc hoang, đều tăm tắp. Dưới chân sa mộc toàn hoa cúc đỏ. Dín dần thành nếp, Pụ Cháng thành chỗ nghỉ quen chân của người qua lại.
Pụ Cháng, Pụ Dín ngày càng không giống nhau, càng xa nhau. Cho đến khi ngay trung tâm chợ Pụ Cháng có một người đàn ông râu rậm mang theo vợ từ xuôi lên, mở một quán thịt chó, thì hai bản không còn nối lại với nhau được nữa.

 Bao đời nay, người Pụ Cháng, Pụ Dín nuôi chó giữ nhà, giữ nương, coi nó như bạn. Chó lớn lên cùng với người. Có con chó giữ cửa, người lớn đi làm cứ để trẻ con ở nhà, không phải lo gì. Đến mùa bẻ ngô, nhổ sắn, mang con chó lên nương làm nhà cho nó ở, rồi người cứ về nhà mà ngủ. Trẻ con có khi bị đánh vì hư, nhưng con chó thì một câu chửi cũng không phải nghe. Cứ ở với người mãi, chó bố chó mẹ già ốm, lông rụng, nằm một chỗ, thì chó con đã kịp lớn lên cả đàn. Cần tiền đến đâu cũng chỉ bán con gà con lợn, không ai bán chó đi lấy tiền bao giờ.

Vậy mà bây giờ Pụ Cháng lại để người lạ đến giết chó như giết gà thế thì Pụ Dín không chịu được rồi. Cậy giàu, cậy thừa tiền thừa của không cần chó canh nương nữa đấy mà. Nhưng không cần thì thôi chứ, sao lại đem giết thịt con chó bao nhiêu năm bầu bạn với mình? Tệ quá. ác quá. Người Pụ Dín giận lắm. Giận mà không biết làm gì quay ra lo giữ đàn chó trong bản, không cho đi chơi xa, nhỡ lao xuống Pụ Cháng lại không có đường về.

*
Đã mấy đêm rồi, đang dở giấc, nghe tiếng móng chân con Mốc cào cào vào cánh cửa gỗ Pao lại bật dậy, rút then cho nó vào nhà. Đấy là lúc gần sáng, tiếng chó bị giết thịt dưới Pụ Cháng bắt đầu vọng lên, nghe rõ lắm. Đưa con Mốc vào, cho nó nằm ngay dưới chân giường mình, rồi Pao cũng thức luôn đến sáng. Con Mốc run lên từng chập. Đi săn gặp thú dữ, đêm mưa sấm sét ầm ầm, cây to đổ gãy khắp nơi chưa bao giờ, chưa cái gì làm nó biết sợ. Chỉ đến bây giờ, nghe tiếng chó tru lên từng đêm mới thấy con Mốc run bần bật thế này. Sợ hay là uất ức cũng không rõ nữa, nhưng cứ soi đèn pin vào mặt nó là thấy hai con mắt mở chừng chừng, đỏ như hai hòn than.

Hôm nào vào phiên chợ, xe qua lại nhiều. Hôm ấy lão chủ quán giết nhiều chó. Nghe tiếng kêu cũng biết loại chó nào bị giết. Pụ Dín, Pụ Cháng xưa nay chỉ có mấy loại thôi, ai mà không nhận ra được. Chó vàng chân đen, đuôi cong kêu như tiếng xé vải; chó đen, tai cụp, đuôi quét đất kêu tiếng dài mà dữ; chó khoang trắng khoang đen kêu như tiếng trẻ con khóc mẹ... Những tiếng kêu từ trong cổ, không há miệng ra được, nghe càng sợ, dội đi dội lại Pụ Dín mãi.

 Nhà Pao nuôi chó khoang từ đời ông bà, trước cả ông bà nữa. ở Pụ Dín, nhà nào nuôi loại chó gì thì cứ nuôi mãi. Chó con chui ra, con nào của nhà mình thì lấy, con nào của nhà khác thì đợi đến lúc nó biết ăn cơm là mang đến tận nhà trả. Nhà khác cũng thế. Chó khoang hiền lại chăm, thức suốt đêm đi hết nương này qua nương khác được. Họ Ly ở Pụ Dín ít người nên chó khoang ở Pụ Dín cũng ít. Như nhà Pao đây, có mỗi con Mốc. Thỉnh thoảng có nhà mang chó con đến cho nhưng chỉ nuôi được vài ngày là chết dù Pao có nhá cơm cho nó ăn từng bữa. Nhà ít người, Pao có mỗi con Mốc làm bạn, đi đâu cũng chó nó theo. Con Mốc cao lừng lững, tai dài dựng đứng, mùa khô nghe tiếng chân nó chạy trên suối cạn như tiếng vó ngựa. Bố Pao già yếu rồi, việc canh nương vụ nào cũng phần con Mốc.

Hồi đầu mùa đông năm Pao lên hai tuổi, mẹ đẻ một lúc hai em, một trai một gái, nhưng không em nào sống được vì yếu quá. Mẹ ra nhiều máu, lại buồn quá cũng ốm luôn từ đấy, không còn làm được việc gì nặng nữa. Nhà không có con trai nên bố Pao là con cả cũng dần dần thành con thứ. Càng ngày bố càng cố ý để mấy em trai lo hết việc trong họ. Bố buồn. Nhưng buồn bao nhiêu cũng để trong bụng thôi, không nói ra vì sợ mẹ biết lại càng ốm thêm.

Việc nhà dồn hết vào đôi tay bố, lo đủ miệng ăn đã khó còn phải kiếm thuốc, gọi thầy mo cho mẹ nữa, nên nhà nghèo càng nghèo thêm. Năm Pao lên tám tuổi thì người già trong họ bắt đầu đến nhà Pao nói chuyện với bố. Đến buổi tối, lúc cả nhà ăn cơm xong rồi, ngồi bên bếp uống nước chè. Hôm nào các ông chú đến thì mẹ Pao cũng chỉ pha nước chè mới rồi lui vào buồng, để bố Pao ngồi tiếp chuyện. Lúc đầu còn nói xa nói gần, sau thì các ông chú nói thẳng ra là cả họ nóng bụng quá rồi, muốn bố Pao có con trai để lo việc họ sau này. Chú Dín cũng có con trai, nhưng chú người yếu, da xanh, làm việc gì cũng chỉ được một nửa đã thõng tay đứng thở, ngày nào cũng ho vài trận. Lấy vợ vào cũng không hơn gì. Vợ chú Dín to gấp đôi chú, làm việc gì cũng một nhoáng đã xong. Mọi việc trong nhà dồn lên tay thím hết, kể cả việc dạy con. Nhưng xưa nay, việc dạy con trai thành người lớn có bao giờ lại là việc của mẹ, con trai thì phải theo bố chứ. Hai đứa nhà chú Dín, tám chín tuổi đẽo con quay gỗ chưa nổi, bao giờ mới biết tra cán con dao? Bao giờ mới làm việc đàn ông trong nhà được, nói gì đến việc họ việc làng. Bố Pao không như chú Dín, việc gì cũng thạo cũng giỏi, ngày còn thanh niên cả Pụ Dín không ai dám so tài. Cả họ trông chờ vào bố Pao. Từ hồi hai em Pao mất mọi người lại đợi mẹ Pao mang bụng, nhưng đợi mãi, đợi mãi không thấy, chỉ thấy mẹ Pao người càng ngày càng mỏng đi, bé lại. Thế mà bố Pao thì nhanh già quá, gần bốn mươi mà tóc đã bạc rồi. Bà thím bảo, người nào buồn nhiều, khổ nhiều thì mau già, nhưng sống lâu. Bố Pao nói, sống lâu mà cứ buồn mãi, khổ mãi không sướng bằng chết sớm. Những câu chuyện nói qua nói lại thế mẹ Pao nghe hết. Nghe rồi thở dài.

Ngày xưa, ông nội, ông ngoại Pao chơi thân với nhau từ lúc còn rủ nhau mang con quay gỗ lim ngâm bùn dưới vũng trâu đầm ba tháng đi đấu ở bản khác, cách Pụ Dín mấy cái nương sắn. Lớn lên, hai người lấy vợ cùng một năm, làm bố trẻ con chỉ trước nhau vài ngày. Hứa với nhau trước nên lúc mẹ Pao vừa tròn tuổi mười hai là ông ngoại cho về làm dâu họ Ly rồi. Mẹ Pao là con út, về làm dâu cả, nhưng nhà bên này không có con gái nên ông bà thương chiều như con gái ruột, việc nặng không bắt làm. Mẹ Pao cũng lo việc nhà chồng như nhà mình, coi bố mẹ chồng như bố mẹ mình. Về làm dâu lúc còn bé quá, mấy năm liền con dâu toàn ngủ chung với mẹ chồng. Sau này mẹ mới kể với Pao, ông bà nội đòi lấy dâu sớm thế là để giữ phần, sợ một vài năm sau lớn thành con gái rồi lại nhìn thấy người con trai khác chứ không phải bố Pao. Đến lúc ấy cố ép hai người lấy nhau cũng khổ.

Hồi mới cưới về, bố Pao cũng chăm cho mẹ Pao như chăm em gái út, đi rừng gặp hoa gì cũng hái về cho, bắt cả một con sóc con về buộc chân nuôi trong nhà, con sóc ở mãi rồi cũng quen, bỏ dây ra cũng không đi nữa. Mẹ Pao kể, hồi bà nội bắt đầu đuổi con dâu sang buồng riêng với chồng, đêm nào con sóc cũng chen vào nằm giữa hai người, thỉnh thoảng cào cào cho mỗi người một cái.

Vì mẹ Pao làm dâu mà không giống con dâu, bao nhiêu năm họ Ly coi mẹ con Pao như con gái trong họ rồi, thế nên bây giờ bàn chuyện kiếm vợ mới cho bố Pao các ông chú mới không dám nói thẳng ra, cứ vòng quanh xa gần mãi, mặc dù bản này đàn ông lấy vợ hai nhiều lắm, vợ cả không đẻ được con trai là lấy thêm vợ hai thôi, rồi muốn ở chung cũng được mà thích tách ra ở riêng thì ở, không ai ngăn. Dâu nào cũng là dâu, cháu nào cũng là cháu, cứ mang họ nhà chồng là được đối xử như nhau hết.

Đêm nào cũng thế, mẹ dựa lưng vào vách, ôm Pao trong lòng, không cố tình nghe nhưng câu chuyện của đàn ông bên ngoài cứ vẳng vào buồng. Các ông chú nói:

- Mày là cái nóc của họ Ly, bây giờ chân cột cha mục mà cái nóc muốn mục trước, thế có được không? Con vợ mày ốm, nó không đẻ được nữa, thì thôi, ép cũng không ra. Vậy thì mày phải nghĩ xa xa qua cái ngưỡng cửa một tý có ai trách mày không?

Bố nói:

- Không nói nhiều nữa, không nói nữa. Nhé! Các ông chú à, cháu đứng chỗ thấp, chỗ cao cũng như nhau cả thôi, không xếp lại nữa. Việc làng việc họ cần đến đâu, cháu làm được thì làm, không làm ngay được thì để sau này anh em thằng Sình thằng Sính làm. Cây nhà mình đang héo, lòng dạ nào đi tìm cây khác...

Mẹ thở dài, tóc mẹ xõa xuống mặt Pao.
*
Buồng riêng của Pao có một lỗ cửa nhìn ra đầu hồi bên phải, phía mặt trời lặn, cứ mở miếng gỗ che lỗ cửa ấy ra thì căn buồng này là chỗ tối muộn nhất trong nhà. Mặt trời lặn đến đâu thì cái ô nắng vuông vuông lại nhích dần lên tường đến đấy, nhưng ô nắng chỉ lên đến chỗ Pao treo cái túi thêu là dừng lại rồi tắt dần. Mùa đông, sợ gió vào, Pao cắt một mảnh áo mưa trắng, lấy que gài vào lỗ cửa để không bị tối. Có mỗi cái lỗ cửa ấy thôi, để lúc nào không có việc là Pao lại ngồi trong giường nhìn ra. Nhìn ra mà người ở ngoài không biết. Vẫn là con đường trâu kéo gỗ về đào thành rãnh sâu ấy, vẫn cái gốc cây người đi chợ về hay buộc ngựa ấy nhắm mắt vào cũng thấy rõ từng cái mấu xù xì của nó... Quen mắt thế cứ tưởng nhìn mãi cũng chán, nhưng mỗi ngày lại nhìn thấy những cái mới. Chiều hôm trước, Pao cũng ngồi thế này, nhìn qua lỗ cửa thấy trong những người đi chợ về có một người đội một cái chảo lớn trên đầu cắm cúi leo dốc. Sắp tết tháng bảy rồi, mua chảo về đồ bánh đây mà. Cái chảo to che kín người ấy từ vai trở lên, chỉ nhìn thấy tấm lưng vuông như cái bàn uống nước nhà mình, thấy đôi chân bám chắc như con tắc kè trên tường, Pao nhìn theo, nhìn mãi cái bao dao người ấy đeo bên hông. Cái bao dao chạm bạc hình hoa cúc. Hoa cúc đỏ dày cánh, mọc đầy dưới những gốc sa mộc già, Pao đánh về trồng trong vườn bao nhiêu lần không có lần nào cây sống được. Chạm được bông hoa ấy trên bao dao gỗ phải là người khéo tay lắm, Pao vẫn nghĩ ở Pụ Dín chỉ có bố Pao làm được.

Ở Pụ Dín, con gái tầm tuổi Pao lấy chồng gần hết rồi, Pao cũng có nhiều người hỏi nhưng chưa nhận lời ai. Bố nóng ruột, nhìn Pao mỗi mùa ngô lại cao hơn cái vạch bố khắc trên khung cửa một đoạn, chỉ vòng bạc đeo ở cổ tay phải tháo ra từ lâu rồi, thế mà Pao cứ lùi lũi đi làm, đi chợ, về chợ một mình, chập tối đã đóng cửa, thả chó ra. Cũng từ khi Pao cao vượt cái vạch trên khung cửa, hai bố con ít nói chuyện với nhau. Bao nhiêu chuyện Pao cần hỏi lại không hỏi được bố, bao nhiêu chuyện bố muốn bàn với Pao lại không bàn được, vậy là quanh ra quanh vào chỉ có con gà, con lợn, nương ngô, nương lúa làm chuyện nối hai bố con.

Pao chín tuổi thì mẹ mất. Vừa qua mùa gặt, ngô lúa thu về chất đầy nhà đầy sân. Ngày nắng các em con nhà chú kéo sang phơi hộ, dọn hộ. Nhà ít người mà thu về nhiều thế, bố Pao đã tính đến tết tha hồ bán đi mua sắm. Nhưng chưa kịp ăn bữa cơm gạo mới nào thì mẹ đột ngột ốm nặng. Một ngày, hai ngày, người cứ lả dần đi, cánh tay không nhấc nổi nữa. Rồi mẹ đi hẳn trong một buổi chiều. Bố đi cắt thuốc dưới Pụ Cháng chưa về, Pao vừa đuổi gà không cho vào bới thóc vừa chạy vào quanh quẩn bên mẹ. Lúc mẹ dặn Pao, Pao cũng chẳng chú ý nghe, câu được câu mất. Chỉ nhớ láng máng mẹ bảo nếu có người lạ đến ở nhà mình, thì Pao phải nghe lời bố hơn, nghe cả lời người ấy nữa. Một lúc sau thì bố Pao đi người không, xô cổng chạy vào. Thầy lang ở Pụ Cháng bảo tự mẹ Pao muốn ốm thế, mà người ốm đã muốn ốm thêm thì không thuốc nào chữa được. Nhưng bố Pao biết được thế thì đã muộn quá rồi.

Hôm ấy, mặt trời bám mãi trên dãy Hoàng Liên không chịu lặn. Nắng chiều vàng hơn cả ngô lúa đang tãi đầy ngoài sân, nắng lọt qua khe cửa chiếu lên mặt mẹ. Nhìn mẹ ngủ, hai mắt nhắm nghiền, vành khăn tuột ra khỏi đầu Pao không biết rằng mẹ không bao giờ thức dậy nữa. Trên núi, đột nhiên có tiếng gà rừng gáy tiếng gáy chậm, quấn vào nhau.

Sau ngày mẹ mất, các ông chú thôi không đến tận nhà nói chuyện con trai với bố Pao nữa. Ai cũng biết mẹ Pao không tự dưng ốm nặng thế. Mẹ đã đợi đến lúc Pao bắt đầu biết lo việc nhà, đợi đến mùa các ông mối bà mối hay đến đánh tiếng, đợi đến khi ngô lúa đầy nhà, lợn gà đầy chuồng mới ốm. Nhưng mẹ không đợi đến lúc bố hết thương mẹ, đến lúc Pao thành con gái lớn nhiều người để ý, rồi mẹ hẵng đi. Hai bố con Pao thay nhau khóc trước bàn thờ mẹ...

Pao lớn lên, ít bạn bè. Sáng sớm đi làm với bố, tối về nhà đóng cửa sớm. Bọn con trai con gái rủ nhau ra bãi cỏ chơi trăng đông lắm, đi qua nhà í ới gọi Pao, Pao mặc kệ. Pao sợ ánh mắt bọn con trai cứ dán vào lưng vào gáy Pao mỗi lúc Pao ngang qua chúng nó, Pao không thích bọn con gái bị con trai chòng ghẹo còn quay lại buông lời đưa đón, Pao muốn tìm một người như bố mình, vợ không đẻ con trai cũng không bỏ đi lấy người khác. Người ấy còn phải ở rể nhà Pao nữa, bố Pao già quá rồi, Pao không nỡ bỏ đi lấy chồng. Người như thế thì tìm đâu ra. Bố bảo Pao đang nghĩ dại. ở với bố mãi, đến lúc bố theo mẹ đi nốt thì thành gái già rồi. Gái già giống cây mía tím ra hoa, cho cũng không ai thèm lấy. Lại còn đòi người ở rể. Thằng đàn ông đến nhà vợ ở rể giống con chó cụt đuôi ra đường không dám nhìn ai.

Pao cứ ngồi bó gối trong buồng nhìn qua ô cửa. Chếch sang bên trái là bãi cỏ mà bọn thanh niên đang hát hò chòng ghẹo nhau. Trăng đầu tháng lên sớm, bọn con trai đi chơi vẫn phải giắt đèn pin vào cạp quần. Ngoài ấy chỉ toàn những đứa chưa yêu ai, chưa nhắm ai làm vợ làm chồng chứ yêu rồi lại không ra đấy. Bọn thanh niên nô nhau đến lúc trăng lặn là kéo nhau về, ngang qua nhà Pao còn ném đá vào trêu chó. ánh đèn pin như đom đóm bò về các ngả, các đèn tắt hết là cả bản bắt đầu ngủ.

Cả Pụ Dín lẫn hết vào rừng cây, núi cao, tối đen. Bấy giờ mới thấy cái vầng sáng dưới Pụ Cháng hắt lên trời rõ lắm. Bốn phía trời tối đen như nhau nên một mình Pụ Cháng đã sáng càng sáng hơn. Không nghe thấy tiếng người, chỉ thỉnh thoảng có tiếng còi, tiếng xe ô-tô dừng rồi đi. Không biết cứ sáng suốt đêm thế thì người ta ngủ vào lúc nào nhỉ. ở Pụ Dín, chỉ mùa đông các nhà mới để bếp lửa qua đêm, chỉ khi nào nhà có người chết mới để đèn. Vậy mà Pụ Cháng thì sáng suốt đêm, nửa đêm cái vầng sáng thu hẹp một tý rồi về sáng lại mở rộng ra. Sáng như thế chắc người ta cũng quên cả lúc mặt trời mọc. Từ ngày hai bản tránh mặt nhau Pao cũng như mọi người ở Pụ Dín, không xuống Pụ Cháng lần nào. Không biết điện sáng như thế thì Pụ Cháng có gì khác ngày xưa, hồi Pao còn được bố cho đi theo tìm mua ngựa ấy không? Bọn thanh niên Pụ Dín nghe lời người già, bảo không cãi nhau nữa thì không cãi nhau nữa, bảo đừng đánh nhau cũng không đánh nhau, không ưa thì tránh mặt đi thôi. Vậy mà vẫn có đứa biết chuyện Pụ Cháng có nhiều người giàu lên, rồi thì thầm kể cho bạn bè nghe. Còn bảo Pụ Cháng nhiều thứ lạ lắm, chưa nhìn thấy bao giờ Pao cũng muốn xuống xem Pụ Cháng một lần. Hình như bố biết, bố bảo: "Bọn trẻ Pụ Cháng bây giờ thành cây không có gốc hết rồi. Ban đêm thức chơi đến khuya, ban ngày thì ngủ, ruộng nương bỏ không, lại còn theo nhau về huyện, về tỉnh, bảo là đi buôn dễ kiếm tiền hơn. Vài năm nữa, người già chết hết là bùa dán cửa cũng bị chúng nó xé đi thôi".

Pao không dám nói gì. Không biết bố nghe ai kể mà biết rõ thế. Bố còn bảo mười đứa con gái Pụ Cháng bây giờ thì bảy, tám đứa bỏ khăn vấn rồi, lại không mặc váy nữa mà quay sang mặc quần như đàn ông. Ôi trời, thế còn gọi là con gái làm sao được nữa!

Một buổi chiều, Pụ Dín có hai người khách lạ. Khách là đàn ông, tìm vào nhà trưởng bản, bảo muốn lên Pụ Dín để hỏi mua chó. Trưởng bản nói:

- Pụ Dín không có chó để bán. Hỏi mua chó ở Pụ Dín cũng giống như hỏi mua người đấy. Mà người thì có mua bán được không?



Người khách trẻ giải thích:

- Ở làng cháu bây giờ trộm cắp nhiều quá, ban ngày cũng mất trộm gà, lợn; người lớn thì bận đi làm chỉ có trẻ con ở nhà không trông được. Nghe nói chó khoang, chó vàng... ở Pụ Dín khôn lắm mới định lên nhờ mọi người giúp cho một ít.

Già bản nghe nói thế xuôi xuôi trong bụng mới gọi mấy trưởng họ đến, bảo mỗi họ giúp khách một con, rồi còn nói với khách:

- Cứ mang về đi, cần nữa thì lại lên, giúp nhau thì Pụ Dín không tiếc đâu. Nhớ cho chúng nó ăn uống như mình nhé. Không tốt với nó là nó bỏ mình đấy.

Khách mừng quá, vừa cảm ơn vừa mang tiền ra biếu lại mỗi nhà một ít. Khách cứ dúi vào tay, chối cũng không được. Khách mang chó đi rồi, mọi người giở tiền ra đếm mới thấy nhiều quá. Trời ạ, có một con chó mà lấy lại bao nhiêu tiền, có khi bán hai, ba quẩy tấu ngô cũng không được bằng ấy. Ngại quá.

Khách quay lại nhiều lần nữa. Mỗi lần quay lại còn mang theo bao nhiêu quà cho tất cả các nhà, người già được thuốc lào, trẻ con được kẹo. Khách thành người quen với Pụ Dín lúc nào không biết. Bây giờ, không cần nhắc, mọi người tự khắc thay nhau dắt chó đến cho. Dắt chó đến, nhận tiền biếu lại, quen dần không ai thấy ngại nữa. Khách vẫn nói với người nào còn ngại cầm tiền:

- Không phải mua bán đâu, anh em bạn bè lúc nào cần tiền thì giúp nhau thôi. Ngày tết, nhà nào cũng có bánh mà vẫn mang cho nhau, có ai từ chối đâu. Cầm một ít tiền cho chúng cháu đỡ ngại. Nhé!

Khách nói thật bụng thế ai mà từ chối được. Pụ Dín nuôi nhiều chó lắm, cho đi một ít cũng không thấm vào đâu. Mà bao nhiêu lần khách mang chó đi theo không thấy con nào bỏ nhà mới trốn về, chắc ở bản của khách mọi người cũng đối xử tốt với chúng nó. Thế thì yên tâm rồi.

Nhà Pao mới nhận về ba con chó khoang ông Dín mang sang cho. Lúc đưa cái quẩy tấu đựng mấy con chó cho Pao, ông Dín hỏi khẽ:

- Pao à, mày với thằng Khiêm còn chơi với nhau không đấy? Bảo nó mang chó sang đây hộ mà nó không nghe...

 - Ôi bác này, sao lại hỏi thế?



Pao quay mặt đi, xấu hổ quá. Lâu lâu rồi Pao không gặp Khiêm, quên mặt Khiêm rồi.

Khiêm là con trai lớn nhà bác Dín. Khiêm hiền lắm, cả bọn dám chặn đường ghẹo Pao thì lúc nào Khiêm cũng đứng phía sau, chỉ nhìn thôi, mặt đã đỏ như say rượu. Thế mà Khiêm càng đứng sau thì Pao càng hay đưa mắt qua vai đứa khác để nhìn. Lúc đầu Pao chỉ định trêu cho Khiêm sợ thôi, nhưng hai ba lần trêu như thế rồi tự dưng Pao cứ bị ánh mắt Khiêm đi theo, cả trong lúc ngủ cũng không trốn được. Mới chỉ có thế thôi. Pao cũng không muốn nghĩ đến Khiêm nhiều hơn, Khiêm là con trai một, cả họ lại trông vào, Pao sợ mình đi vào lối đi của mẹ. Nghĩ đến Khiêm không được như bố mình còn sợ hơn nữa. Chỉ có cái bao dao chạm hình bông cúc đỏ cứ lách cách bên hông Khiêm là làm Pao không dứt hẳn ra được.

Nhà Pao không có nhiều chó nên chưa bao giờ mang chó cho khách cả. Vậy mà lần nào khách lên Pụ Dín cũng đến thăm bố Pao, cho quà. Bố Pao ngại lắm, mang tam thất ra cho lại, khách không nhận:

- Chúng cháu mang ơn cả Pụ Dín này, bác cho chúng cháu được như người cùng bản, đừng làm khách với nhau. Quà có một ít thôi, tấm lòng mới quý.

Lần này ông Dín mang chó con tới cho rồi, con nào cũng đẹp, nuôi tới mùa thu ngô cũng kịp lớn. Ăn cơm tối xong, bố nói với Pao:

- Con gái à, bố định mang con Mốc cho khách...

Pao giật mình:

- Không. Không được đâu bố! Con Mốc ở nhà mình bao nhiêu năm rồi, thân với con như chị em, cho cái gì thì cho chứ con Mốc thì không được đâu.

Nghe bố nói nhé. Khách nó tốt với mình bao lâu nay, mình từ chối nhận quà không được, mình cho quà nó không nhận. ở bản nó, chỉ cần chó canh nhà thôi. Mình cho nó mang con Mốc đi cũng là làm một việc giúp người khó khăn, là việc tốt mà. Bao giờ đàn chó Pụ Dín đẻ nhiều con ở bản nó, nó khắc mang chó về trả mình. Coi như mượn lâu lâu thôi. Nó bảo bố thế mà.

Pao im lặng, không nói gì với bố nữa. Nhưng từ hôm ấy đêm nào Pao cũng cho con Mốc vào buồng với mình từ sớm. Bố cũng không nhắc đến chuyện ấy thêm lần nào. Bố vẫn chiều Pao mà.

Mùa đông đến rồi. Năm nay làm mùa xong sớm Pao kịp đi lấy củi về chất đầy quanh nhà. Bằng ấy củi tha hồ đun, đến tết luộc bánh cũng không lo củi nữa.

Năm nay bố yếu đi nhiều, đến bữa chỉ ăn cố được hai lưng cơm, có hôm chỉ uống vài chén rượu, gắp mấy gắp rau là đứng lên. Pao vừa lo vừa buồn, đêm nào cũng mất ngủ vì tiếng ho cứ nén lại trong ngực bố bên kia vách vọng sang. Gần đây, Pao ép bố vào buồng mà ngủ, không ngủ ngoài nhà nữa. Pao biết bố không muốn ngủ trong buồng vì cứ vào buồng là nhớ đến mẹ, khó ngủ. Nhưng ở ngoài gió quá...

Trời mùa đông tối nhanh, ăn cơm xong đã như nửa đêm rồi. Sương mù vây quanh, chui cả vào trong nhà, ngấm qua bờ tường đất, bong cả mấy tờ báo Pao dán tường ra. Cả bản, nhà nào cũng đóng kín cửa từ sớm, sương mù lại dày, thế nên từ nhà này không sao nhìn thấy nhà kia, nếu không nghe tiếng trẻ con khóc quấy mẹ có khi lại tưởng có mỗi nhà mình bị dìm trong sương mù. Trời càng mù mịt thì cái quầng sáng dưới Pụ Cháng trông càng lạ mắt. Pao cứ nghĩ Pụ Cháng giống như các quẩy tấu đựng hết sao trên trời vào đấy. Dưới Pụ Cháng mùa đông này chắc cũng ít rét đi nhiều, con gái Pụ Cháng thế nào má cũng hồng như quả lê chín...

Bố bị ngã. Chân run rồi, bước vào cái bàn đạp ngựa cũng trượt, vậy là ngã thôi. Chỗ nào cũng đau, đau lưng, đau bả vai, đau khuỷu tay, Pao lo quá khóc suốt cả đêm. Hai hôm sau thì người khách trẻ đến, một mình, bảo nghe nói bố Pao ngã, mang cho mấy thứ thuốc chỗ nào bó được thì bó, không bó được thì bôi. Khách còn ở lại nhà Pao, đêm thức đấm lưng cho bố. Khách ở hai, ba ngày, ở một tuần liền. Bữa cơm nào Pao cũng mổ gà, kiếm thêm chai rượu cho bố đổ vào bình rượu tắc kè, nhà có thêm một người thấy đông hẳn lên. Thuốc của khách tốt quá, bố đi lại được rồi, cố giữ khách ở lại chơi thêm vài hôm. Khách thấy bố nhiệt tình quá cũng không từ chối được. Thấy Pao cầm dao lên rừng khách cũng đi theo, bảo vác chuối hộ. Hai bắp chân Pao, váy ướt quấn vào, cứ bỏng rát lên, đi trước Pao chỉ muốn chạy, suýt ngã mấy lần. Pao không biết tại sao mình cứ run bắn lên, không làm được việc gì từ đầu đến cuối khi có ánh mắt ấy nhìn theo mình.

Rồi khách cũng chào bố, xin phép đi. Pao dắt con Mốc ra, đưa cái dây xích bằng bạc cho khách. Cả đêm trước Pao không ngủ, ngồi xoa đầu con Mốc rì rầm tới sáng. Pao bảo nó, mày phải đi trả ơn cho tao với bố thôi, khổ hay sướng thì cũng phải nghe lời người ta.

Khách cảm động quá, không nói được câu gì, dùng dằng mãi không muốn đi. Con Mốc mọi lần nghe lời Pao là thế, lần này cứ giằng xích ra đòi ở lại. Con Mốc không ưa khách ngay từ lần đầu tiên đến nhà, khách muốn xoa đầu nó cũng không được. Pao mắng con Mốc, mắng nó mà nước mắt cứ chảy ra, con Mốc cũng khóc. Lúc khách kéo con Mốc đi, Pao chạy vào buồng để không phải nhìn theo, nhưng một lúc lại ghé mắt qua lỗ cửa. Ngoài kia con Mốc vừa đi vừa tru lên từng đợt, nó khóc vì phải xa Pao.



Khách đi rồi mà bố còn nhắc mãi, còn kể lại cho Pao biết người ấy mồ côi sớm, ở với ông chú. Chú thì tốt nhưng thím ác lắm, lúc người ấy còn bé suốt ngày bị đánh tím cả mông. Người tốt mà cũng chịu khổ thế, ông trời không công bằng, tự dưng Pao thấy thương thương. Nhớ cái chạm tay lúc đưa dây xích con Mốc cho người ấy mà nóng bừng cả mặt.

Pao quyết định trốn bố xuống Pụ Cháng theo mấy đứa bạn. Thì phải trốn chứ nói thật ra làm sao bố cho đi. Pao chỉ muốn xem Pụ Cháng ban đêm có cái gì mà ở Pụ Dín nhìn thấy sáng thế. Mấy đứa bạn nghe ai kể mà cứ nói chắc chắn rằng dưới Pụ Cháng bán nhiều thứ lắm, ở chợ huyện cũng không có, lại rẻ nữa, mang một quẩy tấu lúa nếp đi bán là mua được bao nhiêu thứ rồi. Thế thì cứ đi thử một lần cho biết, chúng nó cũng tò mò như Pao vậy. Sợ gì, biết nhưng không bắt chước người ta là được.

Pao gói bộ váy áo đẹp vào khăn, để dưới đáy quẩy tấu, đổ lúa nếp lên trên. Sáng sớm, chưa nhìn rõ đường mấy đứa bạn đã ném đất gọi cửa. Pao nói với bố là Pao đi đám cưới ở Pụ Lấu.

Pụ Cháng đông người quá. Bây giờ nhà ai cũng kéo ra gần đường để mở quán bán hàng. Pao bán được lúa nếp ngay, cầm xấp tiền đi sắm đồ. Gương, lược, chỉ mầu, chục bát ăn cơm, cả một cái xoong bé để dành nấu cháo cho bố, mua cho bố cái mũ nồi, một bọc thuốc lào, cái bật lửa... Cứ mua rồi về nhà khắc có cách nói dối bố. Mua hết tiền được gần đầy một cái quẩy tấu, đến trước hàng đèn pin còn mua nốt bằng mấy tờ tiền lẻ được hai cái liền.

Trời tối lúc nào Pao không biết, lúc đứa bạn kéo áo chỉ cho Pao xem cái bóng điện chói cả mắt người ta treo trên cao, Pao mới biết là mặt trời lặn lâu rồi. Pao cứ dán mắt vào mấy cái bóng điện, chân bước theo đứa bạn đi từ đầu chợ đến cuối chợ, thấy chỗ nào cũng sáng như ban ngày, người làm cứ làm, người chơi cứ chơi, người ăn cứ ăn. Không biết như thế thì người ta ngủ vào lúc nào.

Bọn Pao đi ngang qua một cái quán, trong quán đông người lắm, sợ người ta trêu, Pao xốc quẩy tấu đi cho nhanh. Chợt Pao giật mình đứng lại vì nghe tiếng nói quen quá ở ngay chỗ bể nước đang xối ào ào:

- Đêm nay thế nào cũng có xe qua, làm sẵn một con bây giờ nhỉ. Con to nhất nhé. Con này xịn nhất từ trước tới giờ đấy.

Cái gì thế? Người khách. Đúng là người khách trẻ vừa mới ở nhà Pao về hai, ba hôm nay. Người ấy đang cùng mấy người nữa đè ngửa một con chó ra tìm cách buộc chân. Con chó khỏe quá, giãy mạnh như con bò cày. Pao nhìn thấy sợi xích bạc lủng lẳng: "Mốc! Mốc ơi!" Pao chạy bổ đến chỗ đám người kia, tụt dây đeo, quăng mạnh cái quẩy tấu dựng bao nhiêu thứ vào người khách trẻ đang há miệng ra nhìn. Con Mốc vùng ra, lao qua rãnh nước.
Mặt trời lên cao Pao mới tỉnh, đêm qua Pao đã ngủ gục dưới một gốc sa mộc già, dưới chân Pao, hoa cúc đỏ bị đè suốt đêm đang vươn dậy. Một chiếc giày của Pao đã rơi đâu mất, Pao ném nốt chiếc kia xuống vực.

Dãy Hoàng Liên trước mặt, nhìn thì gần mà đi thì xa, còn Pụ Cháng muốn trốn cho nhanh lại cứ ở sau lưng mãi. Trong đầu Pao thấp thoáng cái ô cửa bằng hai bàn tay trong buồng mình.

                                                                                                                 Đỗ Bích Thúy